Tính phòng thủ

TÍNH PHÒNG THỦ.

Tính phòng thủ là cách phản ứng cư xử có tính đề phòng, thận trọng, luôn giữ mình ở thế an toàn, cố thủ, ưu tiên hoạt động ở bên trong nhiều hơn là khám phá ra bên ngoài. Hoạt động bên ngoài chỉ diễn ra khi đã có kiểm chứng rõ ràng, và đã trải qua quá trình thẩm duyệt. Luôn nghi ngờ, đặt câu hỏi với những vấn đề thường ngày, không dễ tin vào những kết quả bất thường tạo ra nếu chưa rõ nguyên nhân, nguồn gốc hình thành.

 Nguyên nhân hình thành tạo ra tính phòng thủ. Điểm xuất phát thấp, non yếu cần được bảo vệ, cần được che chở, Nguyên nhân kế tiếp là cần có sự chắc chắn rõ ràng, đi bước nào chắc bước đó, chấp nhận chậm chãi, tuân thủ quy trình, công đoạn như lên bước cầu thang, họ không ưa cuộc chơi được và mất, thắng và thua. Nguyên nhân tiếp là họ chỉ tin những gì đã có trải nghiệm, đã được chứng thực, nghi ngờ những thứ bên ngoài, phù du, không chắc chắn. Chỉ tin vào bản thân và những trải nghiệm của mình. Họ đặt niềm tin ở bên trong với những gì mình đã trải qua, đã tự thấy. Hướng đến mục tiêu dài hạn, mục tiêu xuyên suốt hành trình cuộc đời của mình, sợ đổ vỡ, lạc lối trên con đường đi về chân lý, sự thật. Tính phòng thủ được lấy hình ảnh của chú Rùa, chậm chắc, dài lâu.

Tính phòng thủ

Người có tính phòng thủ ưa thích lối sống chậm, sống để trải nghiệm, quan tâm sâu vào giá trị ở hiện tại, giá trị của sự sống hiện hữu và biết hướng đến chân lý, mục tiêu cao cả. Điểm mạnh cúa tính phòng thủ. Chậm nhưng chắc, tiến từng bước thay vì lúc được, lúc mất. Lành tính và an toàn là tiêu chí hàng đầu. Toàn tâm toàn ý vào công việc đã chọn. Chấp nhận sai sót lặp lại, sai thì sửa, sửa cho đến khi đạt được. Phương pháp làm thí nghiệm khoa học. Có hệ thống quy trình trước khi hành động, hình dung ra tổng thể trước rồi chia nhỏ ra thành những công đoạn khác nhau, chi tiết hóa cao vào mỗi việc cần làm. Biết thưởng thức ở từng kết quả nhỏ đạt được, duy trì trạng thái này trên suốt hành trình thực hiện. Chỉ hành động khi mọi việc sảng tỏ, rõ ràng. Điều kiện cần để hình thành. Thấy rõ sứ mệnh, nhiệm vụ, ý nghĩa thiêng liêng trước sau đó thực hành cho sứ mệnh đã thấy. Chăm chỉ cần cù, tính tự giác cao. Có tư duy lặp, tư duy chiều sâu. Cần nhiều thời gian để học hỏi và kiểm nghiệm. Cần tự do, ít bị phụ thuộc vào những cản trở thường ngày. Cần có người thầy đỡ đầu, hướng dẫn ở giai đoạn đầu hình thành và phát triển. Cần nguồn lực duy trì và đồng hành trên chặng đường dài như thực hiện các đề tài khoa học. Những nguy cơ cần chú ý! Niềm tin sai, định hướng sai được coi như người sai đường, càng đi càng tối tăm, bế tắc. Dính mắc vào lý thuyết, lý luận, cố chấp vào ngôn từ, câu chữ, luận điểm, quan điểm cá nhân. Thiếu thực hành, thiếu thực tế kiểm chứng, thiếu nguồn lực đồng hành. Nghi ngờ lớn hơn niềm tin, quá nhiều luồng tư tưởng khác nhau, thiếu định kiến, thiếu tính nhất quán. Sợ sai sót nhỏ, thay vì bắt tay thực hiện sửa sai thì dừng lại và nghi ngờ. Sợ đối diện với lỗi sai, tránh đi thẳng vào lỗi sai. Ngoại cảnh chi phối, thiếu kiên định và lập trường. Tự thu mình, kết nối yếu với nhân duyên bên ngoài. ü Sa đà quá sâu vào những tiểu tiết nhỏ.

Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệ
VIỆN GIÁO DỤC KHAI SÁNG
Điện thoại:  0368.126.126
Email: viengiaoduckhaisang@gmail.com hoặc Thaynamhuongnghiep@gmail.com
Website: https://giaoduckhaisang.edu.vn hoặc https://thaynamhuongnghiep.com 
Bắc Ninh số 1:  Số 21, Nguyễn Nghĩa Lập 2, Phường Bắc Giang, tỉnh Bắc Ninh

Bắc Ninh số 2:   Số 82, Lưu Nhân Chú, Phường Bắc Giang, tỉnh Bắc Ninh

TP Hà Nội:  CC Vĩnh Hoàng, Phường Vĩnh Tuy, TP Hà Nội.

TP HCM:     Khu phố 7, Phường Hiệp Bình, TP Hồ Chí Minh.

Bài viết liên quan

Tính cả nể, bao đồng
Tính cả nể, bao đồng
Tính lặp
Tính lặp
Tính Nội kết
Tính Nội kết
Tính duy trì ổn định
Tính duy trì ổn định