Cơ sở khoa học
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA SINH TRẮC VÂN TAY
1. Khái niệm.
Sinh trắc vấn tay (Dermatoglyphics) là một ngành khoa học xác suất thống kê sinh học, đo đạc dấu vân tay, dựa trên nền tảng của di truyền học, phôi học, tâm lý học, thần kinh học…để tìm ra mối tương quan mật thiết giữa vân tay và não bộ. Thông qua Sinh trắc dấu vân tay ta có thể khám phá tiềm năng não bộ, lý giải được gốc rễ các vấn đề về tâm lý, năng lực, hành vi của con người.

2. Lịch sử nghiên cứu và phát triển ngành sinh trắc học dấu vân tay.
Dưới góc độ của lịch sử khoa học, tìm hiểu về cơ sở khoa học của ngành Sinh trắc vân tay, nhận dạng dấu vân tay và còn gọi là Dematoglyphics, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nó, từ trước đến nay. Cụ thể:
- Qua khảo cổ đã chứng minh những năm 1792-1750 trước Công nguyên, tại Vùng Babilon cổ Đại đã lấy dấu vân tay của những người bị bắt giữ và hợp đồng làm ăn, trao đổi bằng đất sét dung dấu vân tay.
- Ở Trung Quốc thời nhà Tần, 248-207 trước Công nguyên, quan chức lấy dấu vân tay để làm chứng cho hiện trường vụ án. Đến năm 105 sau khi có giấy và lụa được phát minh, họ đã dùng đất sét có triện dấu vân tay để làm con dấu cá nhân vào tài liệu.

- Năm 1685 Govard Bidloo xuất bản cuốn sách đầu tiên về Dấu vân tay học và trong đó khẳng định” Dấu vân tay có những đặc điểm không thay đổi và sẽ có những điểm khác nhau ở mỗi người”.
- Năm 1686, Marcello Malighi đưa ra luận thuyết về các loại vân tay: xoắn, vòm, móc.
- Năm 1788 JC Mayer, Đưa ra thuyết cơ bản về phân tích và khẳng định dấu vân tay là duy nhất.
- Năm 1823, John Evangelst Purkinji- Giảng viêng ngành giải phấu Trường ĐH Breslau – Séc xuất bản 1 luận án công nhận có 9 loại dấu vân tay.
- Năm 1880 Tiến sĩ Henry Faulds, người Anh đã đề xuất sử dụng vân tay là phương thức đốc đáo để xác định bản chất con người. Đưa ra lý luận TFRC ( tổng mật động đường vân tay) có thể dự đoán chính xác mối tương quan giữa vân tay và gen di truyền của con người đặc biệt là liên quan đến tiềm năng và trí tuệ của con người.
- Năm 1892, Francis Galton – nhà nhân chủng học người anh,lần đầu tiên chi vân tay thành 3 chủng” Xoắn, Sóng, Móc.
- Năm 1926 Tiến sĩ Harold Cummins nghiên cứu và chỉ ra rằng: Dấu vân tay được hình thành đồng thời, song song với sự hoàn thiện của não bộ. Cụ thể ở thai nhi từ 13 đến 19 tuần tuổi thì vân tay được hình thành khi đó tế bào thần kinh cũng phát triển nhanh chóng khoảng 250,000 tế bào/1 phút. Ông là cha đẻ ngành nghiên cứu sinh trắc học dấu vân tay. Ông chỉ ra mật độ đường vân, số tam giác điểm, hình dạng vân tay, vị trí dạng van tay ở các ngón tay khác nhau có liên quan đến tiềm năng và trí tuệ con người. Dematoglyphics trở thành thuật ngữ chuyên ngành trong lĩnh vực nghiên cứu.
- Năm 1958, Noel Jacquin có đưa ra mối liên quan giữa tính cách con người với các chủng vân tay.
- Năm 1967 Berly Hutchinson, Phát hiện vân tay có thể chứng minh đặc tính bẩm sinh của mỗi người.
- Năm 1976 Schamann và Alter công bố cuốn sách” Sinh trắc học dấu vân tay trong các rối loạn y tế” để nghiên cứu duy truyền và chuẩn đoán cách dị tật nhiễm sắc thể.
- Năm 1970, Liên Xô sử dụng sinh trắc học dấu vân tay để lựa chọn thí sinh thi Olympics.
- Năm 1985, Chen Yi Mou nghiên cứu Sinh trắc học dấu vân tay dựa trên thuyết đa thông minh của Howảd Gardner, lần đầu tiên STHDVT được áp dụng vào giáo dục và chức năng của não liên quan đến dấu vân tay.
- Năm 1986, TS Rita Levimontalcini và Stanley Cohen đã nhận giả Nobel về sinh lý học nhờ phát hiện ra mối liên hệ số NGF (tăng trưởng thần kinh não) và hệ số EGF (sinh trưởng biểu bì hành thành dấu vân tay) có mối quan hệ mật thiết với nhau.
- Năm 2004, Trung tâm sinh trắc học xã hội và hành vi ứng xử quốc tế đã xuất bản 7000 luận án về sinh trắc vân tay.
- Hiện nay Mỹ , Nhật, Trung Quốc, Đài Loan đã áp dụng sinh trắc vân tay vào lĩnh vực giáo dục để cải thiện chất lượng, nâng cao hiệu qủa công tác dạy và học.
- Năm 2011 Sinh trắc vân tay xuất hiện tại Việt Nam được mọi người đông đảo đón nhận. Nó được coi là công cụ khám phá tiềm năng não bộ, để định hướng phát triển cho phù hợp với thế mạnh bản thân, nâng cao khả năng dạy và học, ứng xử xã hội.
Như vậy xuyên suốt dòng thời gian, chúng ta thấy được rằng lịch sử nghiên cứu sinh trắc học vân tay có từ rất lâu đời. Thế kỷ 17, các nhà khoa học phương tây đã có những nghiên cứu về dấu vân tay, dần dần chứng minh được mỗi tương quan giữa vân tay và não bộ. Thế kỷ 21 ngay nay, với sự bùng nổ về khoa học kỹ thuật, ứng dụng phần mềm công nghệ, chúng ta có bước tiến mới trong việc ứng dụng những giá trị đó một cách thiết thực qua công nghệ Sinh trắc học dấu vân tay vào trong cuộc sống.
3. Nguyên lý khoa học của Sinh trắc vân tay.
Qua hàng nghìn năm lịch sử thông qua các công trình nghiên cứu thực nghiệm bởi các nhà khoa học ở trên, đã chỉ ra rằng:
- Vân tay con người là duy nhất, không ai trùng ai, mỗi một người được sở hữu một tập hợp chủng vân tay có hình dạng khác nhau riêng có. Dấu vân tay không thay đổi theo thời gian, nó chỉ phóng to theo bề mặt mà không thay đổi cấu trúc. Ngay việc sinh đôi cùng trứng thì tỉ lệ này cũng là 1/64 tỷ. Cho đến nay chưa ghi nhận trường hợp nào trùng lặp về cấu trúc, mật độ đường vân tay mà chỉ có nhóm, dạng giống nhau mà thôi. Đây giải nghĩa lý do tại sao người ta dùng dấu vân tay để bảo mật, chấm công, làm chứng minh thư hay điểm chỉ…
- Vân tay trên 10 đầu ngón tay, trên 2 bàn tay của con người có mối lên hệ mật thiết với 10 vùng chức năng của não bộ.
- Mỗi vân tay ở từng đầu ngón tay sẽ có hình dạng khác nhau, nó có số lượng đường vân khác nhau, nó xuất hiện ở vị trí ngón tay, ở bên trái hay phải thì sẽ ảnh hưởng đến mật độ kết nối tế bào thần kinh trên 10 vùng chức năng não bộ, nó sẽ quy định về tính cách, năng lực, hành vi con người thông qua 10 vùng chức năng não bộ nằm trên 5 thùy não, 2 bán cầu não.
- Toàn bộ suy nghĩ, tính cách, năng lực, sở trường, hành động của con người ra bên ngoài đều dưới sự điều khiển bởi não bộ.
Đây là những cơ sở khoa học để chứng minh rằng, dấu vân tay là dấu ấn riêng biệt của mỗi con người và cơ sở để phân tích về mặt tiềm năng, trí tuệ.
Như vậy nghiên cứu sinh trắc vân tay sẽ chỉ ra được tiềm năng não bộ, thông qua não bộ ta biết được năng lực, sở trường, hành vi thói quen bẩm sinh của con người một cách khoa học, hiện hữu và riêng có. Từ đó ta có thể đưa ra phương pháp phát triển và khai phóng con người hiệu quả.
Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệ
VIỆN GIÁO DỤC KHAI SÁNG
Điện thoại:
0368.126.126
Email: viengiaoduckhaisang@gmail.com hoặc Thaynamhuongnghiep@gmail.com
Website:
https://giaoduckhaisang.edu.vn
hoặc https://thaynamhuongnghiep.com
Bắc Ninh số 1: Số 21, Nguyễn Nghĩa Lập 2, Phường Bắc Giang, tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh số 2: Số 82, Lưu Nhân Chú, Phường Bắc Giang, tỉnh Bắc Ninh
TP Hà Nội: CC Vĩnh Hoàng, Phường Vĩnh Tuy, TP Hà Nội.
TP HCM: Khu phố 7, Phường Hiệp Bình, TP Hồ Chí Minh.
